DÌ RU;ỘT C;ƯU MA;NG CHÁU M;Ồ C;ÔI SUỐT 22 NĂM, ĐẾN KHI NẰM VI.ỆN CHÁU CHỈ ĐẶT TIỀN XUỐNG BÀN: “DÌ TỰ NGUYỆN NUÔI TÔI, TÔI ĐÂU CÓ NHỜ. GIỜ ĐỪNG LẤY CHUYỆN ĐÓ BẮT TÔI BÁO ĐÁP.”
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
DÌ RUỘT CƯU MANG CHÁU MỒ CÔI SUỐT 22 NĂM, ĐẾN KHI NẰM VIỆN CHÁU CHỈ ĐẶT TIỀN XUỐNG BÀN: “DÌ TỰ NGUYỆN NUÔI TÔI, TÔI ĐÂU CÓ NHỜ. GIỜ ĐỪNG LẤY CHUYỆN ĐÓ BẮT TÔI BÁO ĐÁP.”
Xấp tiền bị đặt mạnh xuống chiếc bàn inox bên cạnh giường bệnh.
Âm thanh khô khốc vang lên trong căn phòng gần như không có người, khiến tim tôi nhói lên một cách kỳ lạ.
Tôi nằm bất động, một tay vẫn đang truyền dịch, mắt nhìn người đàn ông đứng trước mặt mình.
Đó là Hoàng Nam, đứa cháu mà tôi đã đưa về nhà nuôi từ khi nó mới sáu tuổi.
Hai mươi hai năm.
Tôi đã dành hơn hai thập kỷ để chăm sóc nó, vậy mà giờ đây, khi tôi yếu nhất, thứ tôi nhận lại chỉ là một câu nói lạnh đến mức khiến tôi không biết phải đau vì bệnh hay đau vì lòng người.
Nam nhìn tôi, giọng bình thản:
“Dì tự nguyện nuôi tôi chứ tôi có xin đâu. Bao nhiêu năm qua dì nuôi tôi là do dì lựa chọn. Bây giờ dì lớn tuổi rồi, đừng lấy chuyện đó ra ép tôi phải trả.”
Tôi nhìn nó, môi mấp máy nhưng không thốt nổi thành lời.
Nam kéo lại cổ áo, cầm điện thoại rồi nói thêm:
“Tiền viện phí tháng này tôi gửi rồi. Dì cứ dùng đi. Nhưng từ giờ nếu không có chuyện gì thật sự cần thiết thì đừng gọi cho tôi liên tục. Tôi còn công việc, còn vợ con.”
Nói xong, nó quay người bước khỏi phòng.
Cánh cửa đóng lại.
Tôi nằm đó rất lâu.
Nước mắt tự nhiên chảy xuống thái dương rồi thấm vào gối.
Trong đầu tôi chỉ quanh quẩn một câu:
“Hai mươi hai năm qua, rốt cuộc mình đã nuôi ai?”
Tôi tên là Nguyễn Thu Hà, năm nay sáu mươi ba tuổi.
Tôi chưa từng lấy chồng.
Ngày còn trẻ, tôi cũng từng có một người để thương, nhưng sau một biến cố gia đình, chúng tôi chia tay. Từ đó về sau, tôi sống một mình trong căn nhà nhỏ ở ven thành phố Hải Phòng, ngày ngày buôn bán lặt vặt để kiếm sống.
Tôi từng nghĩ cuộc đời mình sẽ cứ thế trôi qua.
Cho đến một ngày, em trai tôi gọi điện báo tin dữ.
Vợ chồng nó gặp tai nạn trên đường từ quê lên thành phố.
Cả hai đều không qua khỏi.
Lúc ấy, Hoàng Nam mới sáu tuổi.
Nó còn chưa hiểu thế nào là mất cha mất mẹ.
Ngày tôi đến đón Nam, thằng bé vẫn ngồi trước hiên nhà, ôm chặt chiếc cặp sách cũ, cứ vài phút lại ngẩng lên hỏi:
“Dì ơi, bố mẹ cháu bao giờ về?”
Tôi không biết trả lời thế nào.
Tôi chỉ ôm nó vào lòng rồi nói:
“Về nhà với dì nhé.”
Nam ngẩng lên:
“Dì nuôi cháu hả?”
Tôi gật đầu.
“Ừ. Từ nay dì nuôi cháu.”
Đó là lời hứa mà tôi đã giữ suốt hai mươi hai năm.
Những năm tháng sau đó chẳng hề dễ dàng.
Tôi đi bán rau từ sáng sớm, trưa tranh thủ phụ quán ăn, tối lại nhận hàng gia công về làm thêm. Có thời gian tôi phải làm ba việc cùng lúc.
Nam càng lớn, chi phí càng nhiều.
Tiền học.
Tiền sách.
Tiền đồng phục.
Tiền học thêm.
Rồi đến tiền đại học.
Tôi chưa bao giờ than với nó rằng mình mệt.
Có năm tôi sốt li bì ba ngày nhưng vẫn cố bò xuống bếp nấu cơm.
Nam khi ấy đang ôn thi đại học.
Tôi sợ nó biết tôi bệnh sẽ phân tâm nên chỉ nói:
“Dì hơi mệt thôi, cháu cứ học đi.”
Có lần tôi bán chiếc vòng vàng mẹ để lại để đóng học phí cho Nam.
Nó hỏi:
“Dì lấy tiền đâu ra vậy?”
Tôi cười:
“Dì tiết kiệm được.”
Tôi không nói chiếc vòng ấy là thứ duy nhất mẹ để lại cho tôi.
Tôi cũng chưa từng kể rằng có những đêm mình nằm tính từng đồng tiền trong ví rồi tự hỏi ngày mai sẽ lấy gì mua thức ăn.
Nam học rất giỏi.
Cuối cùng, nó đậu đại học.
Ngày nó nhận giấy báo trúng tuyển, tôi khóc cả buổi.
Tôi còn nhớ Nam ôm lấy tôi:
“Sau này cháu đi làm, cháu sẽ mua nhà cho dì.”
Tôi cười, xoa đầu nó:
“Dì không cần nhà. Cháu sống tử tế là dì vui rồi.”
Năm tháng trôi qua.
Nam tốt nghiệp, vào làm cho một tập đoàn lớn.
Vài năm sau, nó trở thành trưởng bộ phận của một công ty ở trung tâm thành phố.
Nó mua ô tô.
Mua căn hộ.
Kết hôn.
Rồi có con.
Tôi vẫn ở căn nhà cũ.
Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Nam phải đưa tiền cho mình.
Tôi chỉ thỉnh thoảng gọi điện hỏi:
“Dạo này công việc thế nào?”
“Con ăn uống đầy đủ không?”
“Cháu ngoại của dì khỏe không?”
Những câu hỏi rất bình thường của một người thân.
Nhưng rồi ba tháng trước, cơ thể tôi bắt đầu có những dấu hiệu bất thường.
Tôi đi khám.
Bác sĩ nói thận của tôi đã suy giảm nghiêm trọng, cần điều trị lâu dài và phải chạy thận định kỳ.
Tôi ngồi trong hành lang bệnh viện rất lâu.
Tờ kết quả trên tay run lên.
Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy sợ.
Không phải sợ chết.
Mà sợ mình sẽ trở thành gánh nặng của người khác.
Cuối cùng, tôi vẫn gọi cho Nam.
Điện thoại đổ chuông khá lâu mới có người nghe.
Tôi ngập ngừng:
“Nam à…”
“Dạ, dì.”
“Dì… bị bệnh. Bác sĩ nói phải điều trị lâu dài. Dì không còn sức làm việc nữa. Tháng này dì thiếu tiền viện phí…”
Tôi dừng lại rất lâu mới nói tiếp:
“Nếu con có thể, giúp dì một ít được không?”
Ở đầu dây bên kia im lặng vài giây.
Tôi tưởng Nam sẽ từ chối.
Nhưng cuối cùng nó nói:
“Dì cứ yên tâm. Con sẽ lo.”
Tôi cúp máy, nước mắt cứ thế chảy xuống.
Tối hôm đó, tôi nằm trên giường bệnh và lần đầu tiên cảm thấy mình vẫn còn người thân để dựa vào.
Nhưng ba ngày sau, Nam đến.
Nó không hỏi:
“Dì thấy trong người thế nào?”
Cũng không hỏi:
“Bác sĩ nói bệnh tình ra sao?”
Nó chỉ đặt một phong bì tiền xuống bàn.
Rồi nói câu mà tôi chưa từng nghĩ mình sẽ nghe được từ nó.
“Dì tự nguyện nuôi tôi từ nhỏ. Tôi có xin dì đâu. Dì nuôi tôi là lựa chọn của dì. Giờ dì già rồi thì đừng lấy chuyện đó ra bắt tôi trả.”
Tôi chết lặng.
Tôi nhìn đứa trẻ ngày nào từng nép vào lòng mình.
Tôi nhớ bàn tay bé xíu từng nắm lấy ngón tay tôi.
Nhớ những đêm nó sốt, tôi thức trắng bên giường.
Nhớ ngày nó đậu đại học, nó từng nói tôi là người quan trọng nhất đời nó.
Vậy mà người đứng trước mặt tôi bây giờ lại lạnh lùng đến xa lạ.
Tôi cố nói:
“Dì đâu có bắt con trả ơn. Dì chỉ nhờ con giúp trong lúc bệnh…”
Nam lập tức cắt ngang:
“Con biết. Nhưng dì cũng nên hiểu là con có cuộc sống riêng.”
Nó đứng dậy.
Trước khi đi, nó còn nói:
“Sau này nếu không thật sự cần thiết thì dì đừng gọi con nhiều.”
Cánh cửa đóng lại.
Tôi khóc nhưng không gọi nó quay lại.
Một lúc sau, tôi cố ngồi dậy để lấy khăn giấy trong ngăn tủ.
Bàn tay run rẩy kéo chiếc hộp giấy cũ ra.
Đó là nơi tôi cất những kỷ vật liên quan đến Nam.
Tấm ảnh ngày đầu tiên nó đi học.
Tờ giấy báo trúng tuyển đại học.
Một chiếc huy hiệu cũ.
Và vài bức ảnh gia đình đã ngả màu.
Tôi muốn tìm tấm ảnh Nam năm sáu tuổi.
Tôi muốn nhìn lại khuôn mặt thằng bé ngày ấy để tự thuyết phục rằng người vừa bước ra khỏi căn phòng không phải đứa cháu tôi từng nuôi.
Nhưng khi lục đến đáy hộp, tay tôi bỗng dừng lại.
Bên dưới một tập giấy cũ có một bìa hồ sơ màu xanh.
Tôi mở ra.
Bên trong là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà tôi đang ở.
Tên người đứng trên giấy là:
Nguyễn Thu Hà.
Tôi không ngạc nhiên.
Đó là căn nhà cha mẹ để lại cho tôi.
Nhưng phía dưới còn có một tập giấy khác.
Tôi lấy ra.
Là một bản dự thảo văn bản từ chối nhận di sản.
Người được nhắc đến trong đó là Hoàng Nam.
Tôi ngồi chết lặng.
Tôi chưa từng nói với Nam rằng căn nhà này sẽ được để lại cho nó.
Tôi cũng chưa bao giờ bảo nó ký bất kỳ giấy tờ nào.
Vậy tại sao nó lại có bản dự thảo này?
Tôi đọc đi đọc lại từng dòng.
Càng đọc, lòng tôi càng lạnh.
Tờ giấy được soạn từ vài tháng trước.
Đúng khoảng thời gian tôi bắt đầu phát bệnh.
Tôi bỗng nhớ lại những lần Nam về nhà gần đây.
Nó thường hỏi:
“Dì vẫn ở căn nhà này một mình à?”
“Giấy tờ nhà dì để đâu?”
“Dì có định sửa sang hay bán nhà không?”
Ngày ấy, tôi chỉ nghĩ nó quan tâm đến mình.
Bây giờ nhìn lại, từng câu hỏi ấy bỗng mang một ý nghĩa khác.
Tôi không ngủ được đêm hôm đó.
Sáng hôm sau, tôi nhờ một người hàng xóm thân thiết là cô Lan đem giúp tôi chiếc điện thoại cũ đến bệnh viện.
Tôi gọi cho Nam.
Lần này nó không nghe.
Tôi gọi lần thứ hai.
Vẫn không nghe.
Đến chiều, một người đàn ông lạ mặt tìm đến bệnh viện.
Ông ta tự giới thiệu là người được Nam nhờ hỗ trợ một số thủ tục giấy tờ.
Tôi hỏi:
“Cháu tôi nhờ anh làm chuyện gì?”
Người đàn ông hơi khựng lại rồi nói:
“Anh Nam có hỏi về thủ tục liên quan đến căn nhà của chị.”
Tôi im lặng.
“Cậu ấy nói dì đang bệnh nặng và muốn chuẩn bị trước giấy tờ để sau này khỏi phiền phức.”
Tôi nghe mà sống lưng lạnh buốt.
Tôi không trách người đàn ông ấy.
Tôi chỉ bảo:
“Anh về đi. Từ giờ không cần làm gì nữa.”
Sau đó, tôi gọi cho một người bạn cũ làm việc trong lĩnh vực pháp lý.
Tôi đưa toàn bộ giấy tờ cho chị xem.
Chị nói:
“Căn nhà này đứng tên chị. Nếu chị chưa lập di chúc hay chuyển nhượng hợp pháp thì không ai có quyền tự ý coi nó là tài sản của họ.”
Tôi thở dài.
“Tôi từng định để lại cho cháu.”
Bạn tôi nhìn tôi:
“Định để lại là quyền của chị. Nhưng nếu người ta chỉ chăm sóc chị vì nghĩ sẽ được căn nhà này thì chị cũng nên suy nghĩ lại.”
Câu nói ấy khiến tôi đau hơn bất kỳ lời trách móc nào.
Bởi tôi chợt nhận ra, suốt bao năm qua, tôi chưa từng nuôi Nam để nhận lại bất cứ thứ gì.
Nhưng có lẽ Nam đã nghĩ khác.
Ba ngày sau, Nam đến bệnh viện.
Lần này, nó không mang theo phong bì tiền.
Nó mang theo một tập hồ sơ.
Vừa bước vào phòng, nó đã nói:
“Dì, con muốn nói chuyện về căn nhà.”
Tôi nhìn nó rất lâu.
Rồi bình tĩnh hỏi:
“Con muốn gì?”
Nam hơi sững lại.
“Con chỉ muốn dì làm giấy tờ trước. Sau này dì mất rồi thì đỡ phức tạp.”
Tôi gật đầu.
“Được.”
Nam lập tức ngồi xuống.
Nhưng tôi lấy từ ngăn tủ ra bản dự thảo văn bản mà nó đã chuẩn bị.
Đặt trước mặt nó.
“Cái này là con làm?”
Sắc mặt Nam thay đổi.
Nó im lặng.
Tôi hỏi tiếp:
“Con đã nghĩ đến căn nhà này từ bao giờ?”
Nam không trả lời.
Tôi cũng không nổi giận.
Chỉ nhẹ nhàng nói:
“Dì từng nghĩ nếu sau này dì mất, căn nhà này sẽ cho con. Không phải vì con chăm dì, mà vì con là con của dì.”
Nam cúi mặt.
“Nhưng hôm nay dì thay đổi ý định rồi.”
Nó ngẩng lên.
Tôi nói:
“Không phải vì con không đưa tiền cho dì. Cũng không phải vì câu nói hôm trước. Dì chỉ đau lòng vì con đã tính toán căn nhà này trước cả khi nghĩ xem dì sống chết thế nào.”
Nam không nói gì.
Tôi lấy ra một tờ giấy khác.
“Dì đã làm di chúc mới.”
Nó nhìn tôi.
“Dì để căn nhà cho ai?”
Tôi mỉm cười.
“Cho một mái ấm đang chăm sóc những đứa trẻ không còn cha mẹ.”
Nam sững người.
Tôi nói tiếp:
“Dì từng được nuôi lớn bởi tình thương của cha mẹ. Con cũng từng được dì nuôi bằng tất cả những gì dì có. Dì không muốn căn nhà cuối cùng của mình trở thành lý do khiến người thân tính toán với nhau.”
Nam đứng im rất lâu.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi thấy mắt nó đỏ lên.
Nó bước đến gần giường.
“Dì…”
Tôi quay mặt đi.
“Con về đi.”
“Dì cho con xin lỗi.”
Tôi im lặng.
“Con sai rồi.”
Tôi vẫn không quay lại.
Nam ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh giường.
Nó ngồi rất lâu.
Không nói thêm gì.
Đến tối, cô y tá bước vào kiểm tra, Nam vẫn còn ở đó.
Nó lặng lẽ bóc một quả quýt rồi đặt lên bàn.
Hành động nhỏ ấy khiến tôi nhớ đến thằng bé sáu tuổi ngày nào.
Ngày trước, mỗi khi tôi mệt, Nam cũng từng ngồi bên cạnh bóc quýt cho tôi.
Có lẽ trong con người nó vẫn còn đứa trẻ ấy.
Chỉ là suốt những năm trưởng thành, nó đã để tiền bạc và cuộc sống riêng che khuất phần tình cảm ấy.
Những ngày sau đó, Nam bắt đầu đến bệnh viện thường xuyên.
Nó không còn nói về căn nhà.
Không hỏi về giấy tờ.
Chỉ lặng lẽ đưa tôi đi chạy thận, mua cháo, nhắc tôi uống thuốc.
Một lần, nó ngồi bên cạnh rồi hỏi:
“Dì còn giận con không?”
Tôi nhìn ra cửa sổ.
“Dì không biết.”
Nó cúi đầu.
“Con không mong dì tha thứ ngay.”
Tôi im lặng một lúc rồi nói:
“Nam này, dì nuôi con hai mươi hai năm không phải để đổi lấy tiền. Dì chỉ mong đến lúc dì già, con vẫn nhớ rằng đã từng có một người thương con không cần điều kiện.”
Nam bật khóc.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi thấy nó khóc như một đứa trẻ.
Tôi không ôm nó.
Chỉ đưa cho nó một chiếc khăn giấy.
Bởi có những tổn thương không thể chữa lành chỉ bằng một lời xin lỗi.
Nhưng ít nhất, từ ngày hôm ấy, chúng tôi bắt đầu học cách nhìn lại nhau.
Tôi vẫn giữ quyết định về căn nhà.
Tôi không còn muốn dùng tài sản để giữ một người bên cạnh mình.
Nếu một ngày tôi mất đi, thứ tôi muốn để lại không phải là một căn nhà trị giá bao nhiêu tiền.
Mà là một bài học.
Rằng tình thân không phải món nợ.
Nuôi một đứa trẻ không có nghĩa đứa trẻ ấy phải trả lại bằng tiền.
Nhưng làm con cũng không có nghĩa có thể phủi sạch những năm tháng người khác đã hy sinh cho mình bằng câu nói: “Tôi đâu có xin.”
Hai mươi hai năm trước, tôi đưa một đứa trẻ mồ côi về nhà và hứa sẽ chăm sóc nó.
Tôi đã giữ lời.
Còn hai mươi hai năm sau, điều tôi mong nhất không phải là nó trả lại cho tôi những gì tôi đã cho.
Tôi chỉ mong khi nhìn lại, nó hiểu rằng trên đời này có những người từng yêu thương nó mà không hề tính toán.
Và nếu một ngày nào đó nó có con, tôi mong nó sẽ nhớ câu chuyện của chính mình để biết cách đối xử tử tế với người đã vì nó mà hy sinh.
Bởi tiền có thể chữa được một phần bệnh tật.
Nhưng không có thứ thuốc nào chữa được cảm giác bị chính người mình thương nhất xem như một món nợ.